BẠN ĐẾN THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VISITORS

    Flag Counter

    I LOVE YOU

    3 khách và 0 thành viên

    TÀI NGUYÊN WEB

    EM NGÀN NĂM

    ĐIỆU DÂN VŨ

    Xứng danh trường Hồ Văn Cường

    BIỂN NHỚ

    oanhsb

    Mai em đến

    Xin biển đừng êm dịu

    Thôi thì thầm

    giai điệu du dương…

    LỜI HAY

    iloveyou

    XEM GIỜ

    DU LỊCH VIỆT NAM

    Gốc > ÔN TẬP NGỮ VĂN > Lớp 12 > Các bài học >

    “Ánh trăng” - Mạch kể từ quá khứ

    Ảnh minh họa/INT

    Ảnh minh họa/INT

    Điều đó quả thật đúng bởi từ những điều tưởng chừng vô cùng bình dị, quen thuộc nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ lại mang đến cho người đọc những triết lý nhân sinh, giá trị sâu sắc.

    Ánh trăng của Nguyễn Duy là một bài thơ như thế. Tác phẩm là câu chuyện riêng, là hoài niệm về quá khứ đẹp đẽ và qua đó bộc lộ suy ngẫm về thái độ sống cần có của con người. Bài thơ ra đời năm 1978, khi đất nước đi qua chiến tranh, con người trở về với cuộc sống thời bình, với phố phường trẻ trung, đô hội. Từ đó có một miền quá khứ được dội về:

    Hồi nhỏ sống với đồng

    Với sông rồi với bể

    Hồi chiến tranh ở rừng

    Vầng trăng thành tri kỉ.

    Âm vang của quá khứ được gợi lên từ những chi tiết thơ giàu chất tự sự. Cụm từ hồi nhỏ, hồi chiến tranh cùng những hình ảnh liệt kê đồng, sông, bể, rừng như một thước phim quay chậm, tái hiện mảnh ghép của quá khứ ùa về. Đồng, sông, bể, rừng là khoảng không gian rộng lớn, mênh mông, vô cùng, vô tận của thiên nhiên. Đó còn là không gian thanh khiết, tinh khôi và thân thuộc. Hồi nhỏ, tuổi thơ lấm lem bùn đất với đồng, tuổi niên thiếu vui đùa trên dòng sông, lớn lên vùng vẫy ở biển khơi xa rộng. Tất cả đều diễn ra dưới sự chứng kiến của vầng trăng, quê hương và gia đình. Nguyễn Duy từng ghi lại tuổi ấu thơ dữ dội như vậy trong một bài thơ khác:

    Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

    Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

    Bắt chim sẻ ở vành tai tượng phật

    Và đôi khi ăn trộm nhãn của Trầm.

    Chàng trai ấy lớn lên, gia nhập những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn. Bắt đầu từ đây, đời lính gắn liền với đồng chí đồng đội. Ở rừng, dưới ánh trăng, người lính cùng nhau chờ giặc tới. Dưới trăng họ chia nhau từng mẩu tin nhà, chia cả cuộc đời, chia cả cái chết. Trăng đã thành tri kỉ, hiểu thấu tâm trạng con người. Trăng vừa là hình ảnh thiên nhiên bình dị, hiền hậu vừa là biểu tượng của quá khứ, nghĩa tình gắn liền với đất nước, nhân dân. Trăng trở thành một phần đời đầy ý nghĩa đối với người lính. Nghệ thuật so sánh hồn nhiên như cây cỏ thể hiện một niềm tự hào bởi lẽ không gì trong sáng, hồn nhiên như cỏ cây, hoa lá.

    Có một quá khứ gần hơn đã hiển hiện trong đời người lính: Từ hồi về thành phố. Người lính đã giã từ vũ khí về với cuộc sống đời thường. Việc đổi thay về hoàn cảnh sống của con người trong hiện tại và quá khứ được đặt trong sự đối lập. Trước đây, con người sống với sông, đồng, bể, rừng, thiên nhiên mênh mang, bình dị, với ánh trăng trong mát, ngọt lành, giờ đây là cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín. Hoàn cảnh thay đổi dẫn tới tình cảm của con người cũng khác xưa: Lãng quên vầng trăng từng một thời là tri kỉ.

    Sự bạc bẽo vô tình hay vô ý đến với con người một cách từ từ, kín đáo và khó nhận ra qua hình ảnh nhân hóa, so sánh: Từ vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trở thành người dưng qua đường. Vầng trăng vẫn đi qua ngõ, vẫn tròn đầy, thủy chung, tình nghĩa nhưng con người thờ ơ, phản bội quá khứ. Khổ thơ có giọng điệu thản nhiên nhưng âm thầm gửi gắm những ý nghĩa sâu xa: Trong cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc và ấm êm, dễ vô tình hay cũng có thể là cố tình quên đi quá khứ gian khổ, đau thương. Dẫu vượt qua hoàn cảnh, dẫu chiến thắng kẻ thù nhưng con người khó vượt qua chính mình.

    Nếu Ánh trăng là một câu chuyện thì chất tự sự thể hiện rõ nét có lẽ là ở khổ thơ này:

    Thình lình đèn điện tắt

    Phòng buyn – đinh tối om

    Đây là một tình huống quen thuộc, rất thực, tạo bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc và thể hiện chủ đề tác phẩm. Điện mất tạo ra tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Trong khoảnh khắc bất ngờ từ bóng tối bước ra ánh sáng, con người không khỏi ngỡ ngàng, bàng hoàng, thảng thốt khi nhận ra vầng trăng vẫn tròn như xưa, đẹp đẽ, nguyên vẹn. Cuộc gặp gỡ khiến lương tâm con người dần thức tỉnh bởi vầng trăng vẫn vẹn nguyên, không hề hao khuyết. Xuyên suốt bài thơ là chất tự sự thì có thể nói chất thơ, chất trữ tình của bài thơ khắc sâu vào lòng người đọc chính là ở khổ thơ cuối:

    Ngửa mặt lên nhìn mặt

    Có cái gì rưng rưng

    Như là đồng là bể

    Như là sông là rừng

    Có một cuộc gặp gỡ, đối diện đàm tâm trong lặng im giữa hai khuôn mặt, hai tâm hồn. Đó là mặt người và mặt trăng, kẻ quên và người nhớ, kẻ phản bội và người bị phản bội, giữa hiện tại và quá khứ... Đó là khoảnh khắc gặp lại chính bản thân mình với một nỗi niềm chưa gọi thành tên, chưa định nghĩa được đang trào dâng như thác lũ, đang cuồn cuộn chảy về. 

    Rưng rưng là ngôn từ gợi cảm nhất của khổ thơ, là trạng thái vỡ òa của cảm xúc nhưng không khóc được. Có giọt lệ đang dâng trào nơi khóe mắt. Sự xáo động dữ dội diễn ra trong tâm khảm của nhân vật trữ tình: Là nhớ, ân hận, dằn vặt, day dứt, tiếc nuối. Bắt đầu từ khoảnh khắc này đã đánh dấu hành trình phục thiện của con người. Chất nhân văn đẹp đẽ được gửi gắm trọn vẹn trong ý thơ này.

    Sự chuyển đổi của hình tượng thơ từ vầng trăng - sang ánh trăng ở khổ thơ cuối cùng đã tô đậm thêm ý nghĩa của bài thơ. Vầng trăng ở trên trời cao, thể hiện vẻ đẹp vĩnh hằng, bất biến. Còn ánh trăng là ánh sáng của vầng trăng, dịu dàng, lan tỏa. Chỉ có ánh trăng mới có thể len lỏi vào tận góc khuất của tâm hồn con người để thức tỉnh những nỗi niềm sâu kín nhất. Đó còn là ánh sáng của lương tâm, đạo lý làm bừng sáng tâm hồn để con người hướng về những điều tốt đẹp. Cuộc sống xô bồ, xuôi ngược rất cần những cái "giật mình" thức tỉnh như thế. Bởi đây là hành trình con người tìm lại chính bản thân mình.

    Theo GD&TĐ


    Nhắn tin cho tác giả
    Thân Thị Hoàng Oanh @ 21:53 20/06/2020
    Số lượt xem: 212
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến