CHÚC MAY MẮN !

vio

BÀI GẦN NHẤT

SÁNG TÁC CỦA THÀNH VIÊN
Thương người vá trăng
Hỏi - H.O
Lục bát mồ côi - ĐV
Mùa ớt - ĐV
Chùm thơ Haiku - H.O
Tập viết thơ tình - ĐV
Bài thơ năm cũ
Những chiều cuối năm - ĐV
Bản tình ca cho em
Rồi từ đó… - ĐV
Điêu khắc em - H.O
Thuyền ơi… - ĐV
Tâm sự hoa mắc cỡ - H.O
Oẳn tù tì - H.O
Cứ báo bão đi - H.O
Bình thơ "Đợi chờ" - H.O
Sao Băng - H.O
Lục bát cho em - H.O
Đông về nao nao - H.O
Cây vú sữa - H.O
Nhớ thầy dạy Toán
Phây ơi, đừng bai bai…
Tặng anh– H.O
Lục bát cho em
Thôi nhé đừng hờ hững
Thôi đừng hát ru... - H.O
Chợ chiều cuối Thu - H.O
Thu khóc - H.O
Thương mẹ - H.O
Truyện cực ngắn - H.O
Thơ: Ốc đảo - H.O
Bình: Con đường kỷ niệm
Gửi hạ thương - H.O
Cho em bình yên - H.O
Kẻ thù ơi,... - H.O
Tìm về ngày xưa - H.O
Mắt em - H.O
Mưa về Tháp cổ - H.O
Em Mùa Hạ - H.O, CV
Ông Tiên của con - H.O
Mùa chia xa - H.O
Chăn trâu thời FB - H.O
Thơ về Gà - H.O
Em là mùa xuân - VT
Với Gà - H.O
Giọt buồn - H.O
Gió trời - H.O
Cuộc thi Viết về GĐ Việt
Tôi dạy con... - H.O
Nghiện Facebook - H.O
Xuân...không em - VT
Em lạc vào... - VT
Mưa chiều - VT
Chứng chỉ - QT
Điệp khúc - H.O
Xin cho em - H.O
Ngày lá xa cây - H.O
Bình "Lạc mất em"
Tình yêu của sông - H.O
Tản mạn tí - H.O
Đợi chờ là...- H.O
Xin sóng chớ...- H.O
Cảm nhận "Nỗi lo" - H.O
Không chỉ... - H.O
Tình Sóng & Biển - H.O
Tự khúc mùa hè - VT
Dịu dàng Ban Mê - VT
Không biết giờ ba mẹ - VT
Bình “Trăng Thượng Tuần” - H.O
“Trái tim thật thà” - H.O
Đi qua miền... - VT
Chỉ riêng em.... - VT
Hương bưởi - VT
Khi gió về - H.O
Người hàng xóm...- QT
Dấu ba chấm - VT
Nhịp cầu tre - VT
Trăng ốm - VT
Bắt đền - VT
Lục bát mùa xuân - VT
Ngày phụ nam - H.O
Lối xưa - H.O
Đừng xa em!- H.O
Tự tình - VT
“FB hành”- TQT
Chuyện món quà - H.O
Gửi em...- VT
Nụ hôn đầu - VT
Cả Ngố với FB - QT
Nỗi niềm... – H.O
Em tắm chưa xong - H.O
Tiếng đập cánh trong đêm - QT
Ngày anh...- VT
Cười tí: Hoang hoải - H.O
Trang Thơ Nguyễn Thuỷ
Có thể nào chăng? - VT
Cuối thu - VT
Điều tôi có - H.O
Dậy đi, Aylan... - VT
Người dưng - VT
Lửa - VT
Ninh Bình ơi - QT
Hoa mắc cỡ - VT
Đời thực - ảo - VT
Thơ vui: Giấu buồn - H.O
Thơ viết tặng em - VT
SP thỉnh Kinh 2- H.O
SP thỉnh Kinh 1 - H.O
Văn hoá trâu bò - H.O
Khi Chủ tịch mất chức - H.O
Khổ thân Chủ tịch - VT
Đằng nào cũng chết - H.O
Bò không răng - H.O
Chuyện tình Trống Choai5 - QT
Chuyện tình Trống Choai4 - QT
Chuyện tình Trống Choai3 - QT
Chuyện tình Trống Choai2 - QT
Chuyện tình Trống Choai1 - QT
Qụa trắng - H.O

378335Barres_petits_noeuds__7_.gif

BIẾM HOẠ - VĂN THỌ
* Đại siêu ăn
* Tiến sĩ mì ăn liên
* Thăng quan thần tốc
* Tranh Xuân Đinh Dậu
* Lễ trao bằng...
* Vụ án... bánh mì
* Hai thứ bửu bối...
* Xe công
* Cướp lộc
* Dzô! ...Dzô!...
* "Xuân Như ý"
* Hội chứng Smartphone
* Giải Nhất cuộc thi biếm họa
* Minh họa “Táo Quân”
* Tranh trên báo Tết BT 2016
* Tiền thưởng cuối năm
Quan tham VN năm 2015
* Giáo dục năm 2015
* Truy tìm tham nhũng
* Biếm hoạ về Cò…
* Cái mặt kênh kiệu…
* Ngân sách - Viện phí tăng
* Biếm hoạ đăng ngày 7/11/15
* Đạo thơ
* Đánh rắn tham nhũng
* Câu Like
* Tôi thấy hai bàn...
* Tôi thấy anh này bay quá siêu!
* Kẹt cứng rồ...!
* Phạt nữa à?
* Đại gia - Đại học
* Cả nhà làm quan
* Trung thu vui khiếp!
* Dân “đầu đường xó chợ”
* Học trò du dây
* V.league hạ màn
* Nỗi lo tiền trường
* Lễ Giảng khai NH 15-16
* Tượng đài nghìn tỉ
* Nhà văn hoá thôn làm
* Rót kinh phí

378335Barres_petits_noeuds__7_.gif

BẠN ĐẾN THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • I LOVE YOU

    0 khách và 0 thành viên

    TÀI NGUYÊN WEB

    VỀ BẰNG AN

    Nhạc: Nguyễn Minh Châu
    Thơ: Trần Văn Thọ

    QUÊ HƯƠNG ĐIỆN BÀN

    BIỂN NHỚ

    oanhsb

    Mai em đến

    Xin biển đừng êm dịu

    Thôi thì thầm

    giai điệu du dương…

    LỜI HAY

    iloveyou

    XEM GIỜ

    DU LỊCH VIỆT NAM

    bif03jpa1gms_500

    Gốc > HOÀNG OANH VIẾT > Sáng tác >

    Bản hòa âm đa sắc

    non_qh1_500

    Dự thi: Trang trí nón lá - Chủ để Chiếc nón tôi yêu

     Bài thuyết minh:

    CHIẾC NÓN QUÊ HƯƠNG – BẢN HÒA ÂM ĐA SẮC

    Quê hương là cầu tre nhỏ,
    Mẹ về nón lá nghiêng che
    (Quê hương - Đỗ Trung Quân)

    Chiếc nón lá mộc mạc, giản dị, rất gần gũi trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Việt Nam. Cùng với tà áo dài thướt tha, duyên dáng, chiếc nón lá đã góp phần tôn thêm vẻ đẹp hiền dịu, thanh khiết của người phụ nữ. Từ lâu chiếc nón lá đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống, biểu tượng đặc sắc của người Việt, là nguồn cảm hứng dạt dào cho thơ ca, nhạc họa. Hơn thế nữa, chiếc nón lá gắn liền với lịch sử dân tộc, cùng với hình ảnh tươi đẹp đôn hậu của đất nước, vươn ra đến tận bốn biển năm châu. Chẳng thế mà ai đó đã đặt cho Việt Nam cái tên thật hiền hòa: “Đất nước của những chiếc nón”.

    Hôm nay, nhân kỷ niệm Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, chiếc nón lá ấy càng trở nên đặc sắc, độc đáo hơn qua phần trang trí của Ban nữ công trường TH HVC. Xin mời các bạn chiêm ngưỡng chiếc nón lá quê hương được tô điểm bằng những nhạc cụ dân tộc từ sáu vùng miền của đất nước. Âm thanh, nhạc điệu của những nhạc cụ mỗi vùng miền có những nét đặc trưng riêng, tuy nhiên đều cùng quyện hòa trong nét văn hóa chung của dân tộc, như bản hòa âm đa sắc.

    1. Vùng văn hóa Việt Bắc:                                    

    Mình về với Bác đường xuôi
    Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
    (Việt Bắc - Tổ Hữu)

    Trước tiên chúng ta hãy đến thăm Việt Bắc, vùng đất gắn bó một thời gian khổ mà oanh liệt của quân và dân ta. Nói đến Việt Bắc, ta liên tưởng đến vùng trung du rừng núi trùng điệp trong những năm kháng chiến chống Pháp, với bề dày lịch sử đáng ghi nhớ.

    Một loại hình ca nhạc dân gian không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào các dân tộc vùng cao xứ Việt Bắc là đàn tính - hát then. Đàn tính có nhiều loại, từ 12 dây như trong cổ tích, 3 dây cho đến 2 dây... và mỗi loại lại diễn tả một thứ tâm tư tình cảm khác nhau. Tiếng đàn tính mênh mang dìu dặt giữa đại ngàn xanh thẳm của núi rừng Việt Bắc, càng nghe lâu, càng khiến ta say. Tiếng đàn tính vang vọng từ bao năm qua, lúc nắng lúc mưa, biểu đạt nỗi niềm nhân tình thế thái. Tiếng hát then khiến ta lãng đãng, lúc day dứt bâng khuâng, lúc trầm lắng ưu tư, khi rộn ràng tha thiết... Tiếng đàn cứ tỏa đi, lan xa, ngân vang mãi và ngấm sâu lắng đọng giữa đất trời núi rừng trùng điệp mây mờ bao phủ quanh năm của vùng sơn cước. Ai đã từng hát then thì buộc phải biết chơi đàn tính và ngược lại!

     Bên cạnh đàn tính, kèn Pí lè cũng là một loại nhạc cụ độc đáo của đồng bào Việt Bắc. Vào những dịp lễ hội truyền thống, lễ cấp sắc, lễ cúng thần lúa, thần rừng, cưới hỏi, dịp Tết hay những lúc nông nhàn, người dân vIệt Bắc lại mang kèn Pí lè ra thổi, cất lên những giai điệu hợp cảnh, hợp lòng người. Tiếng kèn như lời tâm tình với trời đất, núi rừng, như lời tâm sự của những đôi trai gái thương nhau...

    non2_500

    2. Vùng văn hóa Tây Bắc:                                    

    Tạm biệt “Đêm đầu xuân nghe bài Then giải hạn/ Tiếng đàn vang khúc nhạc trong ngần…” ở Việt Bắc, chúng ta cùng đến thăm miền Tây Bắc, đến với những ruộng bậc thang “dẫn lên trời” đẹp như tranh.

    Ai đã từng qua vùng đất này, không thể quên được hình ảnh những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc. Đặc biệt vang vọng mãi trong lòng người bản “Tình ca Tây Bắc” hòa quyện trong tiếng sáo trúc tuyệt vời, đi cùng năm tháng.

    Có lẽ Sáo trúc là loại nhạc cụ lâu đời nhất trong các loại nhạc cụ dân gian Việt Nam. Bắt đầu từ những thân tre mảnh mai trong vườn nhà tiếng sáo trỗi lên như ru trẻ trong những giấc trưa oi ả, sáo theo trẻ ra đồng réo rắt trên lưng trâu, cho tới khi tiếng chiều rơi chậm hồn quê. Tiếng sáo thanh bình, ngọt ngào và đầy ắp tâm hồn Việt. Sáo trúc sẵn lòng chia sẻ buồn vui mà chưa bao giờ cảm thấy thua thiệt vì thân phận đơn giản của nó.

    Tiếng sáo của đồng bào vùng Tây Bắc làm cho không khí hội hè đình đám nhôn nhịp hẳn lên do tiết tấu nhanh và réo rắt của nó. Thế nhưng nói tới buồn thì không gì buồn bằng tiếng sáo, cứ quanh quẩn chung quanh nỗi buồn của người nghe như vuốt ve cảm xúc, như tạo sự cảm thông hay dẫn dắt nỗi nhớ nhà trên đường cô quạnh. Tiếng sáo hầu như có mặt trong mỗi lần giận dỗi hay hờn ghen và biết đâu tiếng sáo lại chính là mối lương duyên khi cả hai người yêu nhau đều thích cái âm sắc đậm đà hồn dân tộc ấy…

    Bước chân lên vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, sẽ rất ấn tượng khi ta được tiếng khèn Mông da diết, trầm bổng vang vọng giữa núi đá trùng điệp. Cây khèn là một nhạc cụ gắn bó với người Mông mỗi khi xuống chợ cũng như trong các dịp lễ, tết... Thiếu tiếng khèn, là thiếu đi “linh hồn” của người Mông.

    Tiếng khèn còn xuất hiện ở trong những ngày Hội Xuân, khi Tết đến Xuân về, những cánh hoa Đào, Lê bung nở khắp núi rừng, tiếng khèn vui tươi, rộn ràng lại cất lên. Theo người Mông, con trai thổi khèn hay thì mới có nhiều con gái thích. Người nào vừa biết thổi khèn, vừa biết giao tiếp đối đáp tốt thì càng dễ lấy vợ. Bởi vị trí “thầy khèn” có vai trò rất quan trọng trong các đám, lễ của người Mông. 

    Tiếng Sáo, tiếng khèn khi dìu dặt, thiết tha, khi vi vút, ngân nga cứ âm vang mãi, ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng những ai từng được đặt chân đến Tây Bắc.

    non1_500_01

    3. Vùng văn hóa châu thổ Bắc bộ:                                    

    Về thăm châu thổ Bắc Bộ, vùng đất lịch sử lâu đời, là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh của người Việt. Đây cũng là nơi bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống.

    Nói đến nhạc cụ đặc trưng của vùng Bắc bộ, ta nghĩ ngay đến Chiếc Đàn Bầu - linh hồn dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng triệu năm để “linh hồn Việt Nam” thấm đẫm vào từng dòng máu, tấc đất. Và cũng từng ấy năm, cây Đàn Bầu với những âm hưởng “tích tịch tình tang” du dương, trầm lắng được mảnh đất này bồi đắp nên, vẫn luôn tồn tại trong máu huyết dân tộc, lặng lẽ âm thầm thôi nhưng thật vĩ đại bao la. Đàn Bầu là một kiệt tác độc nhất, là “tinh cốt” của vùng Bắc bộ, cả một dân tộc phi thường.  

    Từ truyền thuyết xa xưa của dân tộc đến những dấu tích lịch sử ghi lại đều có cùng điểm chung, đó là minh chứng cho sự gắn bó máu huyết của Đàn Bầu với xóm làng, người dân lao động Việt Nam bao đời nay. Đàn Bầu là cây đàn truyền thống của người Việt Nam, đã đồng hành với dân tộc ta qua biết bao thăng trầm và biến động lịch sử, ngấm nhuyễn vào từng âm điệu dân gian, vào từng lời ca “ru hời à ơi” của mẹ, bế bồng tâm hồn mỗi chúng ta hòa vào dòng suối linh thiêng của nguồn cội.

    Nếu như cao độ của những nốt nhạc phát ra từ đàn Phương Tây như Piano hay Organ luôn xác định, thì âm thanh Đàn Bầu lại đọng lại giữa những khoảng cao độ đó. Tiếng Đàn Bầu vì thế không còn là tiếng ngân rung của âm thực, với âm sắc dễ nhận ra của dây tơ, dây thép mà đã biến ảo, để rất gần với giọng nói con người. Nó là giọng hát của người đã được mượt hóa và ngọt hóa, để ngân lên các cung bậc sâu thẳm và phong phú vô cùng tận của tâm hồn người, nhưng lại ẩn đi phần ngữ nghĩa của lời ca, vì thế càng đa nghĩa và thâm sâu tuyệt đỉnh:

    Tiếng đàn bầu của ta cung thanh là tiếng mẹ, 
    Cung trầm là giọng cha, ngân nga em vẫn hát, 
    Tích tịch tình tình tang, tích tịch tình tình tang
    (Tiếng đàn bầu - Lữ Giang)

    Ngoài chiếc đàn bầu độc đáo bắt nguồn ở vùng Bắc Bộ, Đàn Nguyệt cũng rất phổ biến dùng để độc tấu, hòa tấu với nhiều ngón chơi độc đáo như ngón nhấn, ngón vê, ngón luyến… Màu âm đàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng, tình cảm, đa dạng trong diễn tả các trạng thái cảm xúc âm nhạc. Miền Bắc Ðàn Nguyệt được sử dụng trong Hát Chèo, Hát Chầu Văn, ở miền Trung Ðàn Nguyệt gắn bó với Ca Huế và ở miền Nam Ðàn Nguyệt thường gọi là Ðàn Kìm sử dụng trong các dàn nhạc Tài Tử và Cải Lương. Ðàn Nguyệt còn tham gia nhiều Dàn nhạc Dân tộc khác như Dàn nhạc Bát âm, Dàn nhạc Lễ... khi đệm cho Hát Chầu Văn chỉ cần một cây Ðàn Nguyệt cùng với hai nhạc khí gõ...

    4. Vùng văn hóa Trung bộ

    Ôi! Quê hương
    Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước
    Gió bão thù chi với mảnh đất này
    Trường ca Trầm tích - Hoàng Trần Cương)

    Cái đòn gánh ấy chính là miền Trung - dải đất hẹp và dài dọc theo biển Đông, từ tỉnh Quảng bình tới tỉnh Phan Thiết. Miền Trung thường được nhắc đến với sự ví von đơn giản nhưng giàu ý nghĩa bởi sự khác biệt từ điều kiện tự nhiên địa hình, khí hậu cho đến con người: “khúc ruột miền Trung”.

    Dải đất hẹp, eo thắt đến tận cùng ấy đầy khổ ải bởi “nắng nẻ mưa nguồn”, khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô cằn. Con người miền Trung luôn có nét đẹp riêng: chịu đựng gian khổ, cần cù, hiếu học, ẩn chứa những nét văn hóa hết sức độc đáo. Về miền Trung để được thưởng thức những tiết mục ca múa nhạc đặc sắc, có cả sự rộn ràng, vui vẻ của tiếng trống Ginăng, tiếng trống Paranưng.

    Các nhạc cụ này là thành tố quan trọng để tạo nên phần hồn lễ hội Chăm. Nhạc cụ Chăm không chỉ là sản phẩm vật chất đơn thuần mà còn là phương tiện biểu diễn nghệ thuật mang lại biểu cảm thẩm mỹ trong đời sống tâm linh. Có thể nói lễ hội Chăm là nơi bảo tồn, lưu giữ nhạc cụ Chăm. Âm nhạc truyền thống với những bài ca nghi lễ, những làn điệu dân ca, những bài hát ru... đã ăn sâu vào tâm hồn của mỗi người Chăm ngay từ tấm bé, đem lại một sức sống mãnh liệt cho các sinh hoạt của cộng đồng người Chăm.

    Nhạc cụ truyền thống như trống Ginăng, trống Paranưng, kèn Saranai... là biểu hiện tập trung những thành tựu âm nhạc đã được kết tinh trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử cộng đồng người Chăm và được coi là nhạc khí thiêng. Chúng không những có giá trị về mặt thẩm mỹ mà còn có giá trị về mặt âm nhạc. Hệ thống nhạc cụ của người Chăm đã góp một phần không nhỏ tạo nên nét văn hóa độc đáo cho nền âm nhạc của người Chăm, cũng như hệ thống âm nhạc cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Theo quan niệm của người Chăm, 3 nhạc khí kèn Saranai, trống Paranưng và trống Ginăng tượng trưng: trời, đất, con người nên luôn được diễn tấu với nhau, thể hiện sự hòa nhập “thiên, địa, nhân”. Do vậy khi diễn tấu rất hùng hồn, mãnh liệt, đa dạng, phong phú, cuốn hút mọi người đòi hỏi nghệ nhân sử dụng phải học tập công phu, bài bản.

    ban_nc_500

    5. Vùng văn hóa Tây nguyên

    Bây giờ mời bạn dừng chân trên vùng đất Tây Nguyên với cảnh sắc nên thơ:

    Gởi cho em trăng Tây Nguyên gợi tình
    Cô sơn nữ đắm mình ra sông tắm
    (Gởi cho em - Đỗ Ngọc)

    Tại đây ta được nghe âm thanh tuyệt vời của Đàn T’rưng - một nhạc khí có thể có một hoặc hai người cùng chơi bằng cách dùng một chiếc dùi bằng tre gõ lên các phím.

    Với cộng đồng các dân tộc ở Tây Nguyên như người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê thì đàn T’rưng không thể thiếu trong những dịp lễ hội truyền thống, họ sẽ biểu diễn đàn này trong nhà Rông hoặc ngoài trời tùy vào lễ hội.

    Đàn T’rưng là một trong những nhạc cụ có khả năng diễn tấu đa dạng, phong phú nhất. Âm thanh phát ra từ chiếc đàn T’rưng vang lên êm dịu, nhẹ nhàng bất tận, người ta ví tiếng đàn T’rưng như một khúc hát giao duyên. Còn khi hòa cùng những nhạc cụ khác, đàn T’rưng lại có âm hưởng mạnh mẽ, tấu lên điệu nhạc hùng vĩ của núi rừng. Hiện nay, đàn T’rưng đã xuất hiện nhiều hơn trong các sân khấu ca nhạc hiện đại, nhất là những màn biểu diễn của các ca sĩ xuất thân từ Tây Nguyên.

    Đàn T’rưng được xem là một trong những nhạc cụ đặc sắc nhất trong kho tàng nhạc khí của các dân tộc ở Tây Nguyên. Và với khám phá đó, bạn sẽ cảm nhận thật rõ, với âm thanh độc đáo, loại đàn này làm say đắm biết bao người đến, người đi, và vang xa tận cả năm châu bốn bể.

    Sẽ thiếu sót nếu không kể đến Cồng chiêng – nhạc cụ gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

    Cồng chiêng Tây Nguyên là Di sản văn hóa mang đậm dấu ấn thời gian và không gian. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế và thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến... Và, với sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần, có thể khẳng định vị trí đặc biệt của cồng chiêng Tây Nguyên trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

    Ngày 25.11.2005, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới.  

    6.Vùng văn hóa Nam Bộ:

    Chúng ta cùng đến với vùng đất phương Nam để trở thành khách quý của người dân hiền hòa, cởi mở, phóng khoáng và mến khách. Nam bộ là nơi tiếp xúc sớm nhất với phương Tây nhưng trong lòng người dân vẫn in đậm hai câu thơ:

    Từ thuở mang gươm đi mở cõi
    Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
    (Huỳnh Văn Nghệ)

    Đó là miền đất với hai lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long, gọi là miền Đông Nam bộ và Tây Nam Bộ, trung tâm là thành phố Sài Gòn-Gia Định.

    Đồng bằng rộng rãi, kinh rạch chằng chịt, khí hậu 2 mùa mưa và khô rõ rệt, điều hòa. Những cư dân bản địa như Khmer (miền Tây) và Mạ, Stieng, Chơ ro, Mnông sinh sống (miền Đông) cùng với những cư dân đến sau như Việt, Hoa, Chăm xây dựng cuộc sống. 

    Dừng chân nơi xứ dừa xanh mát vùng Nam bộ, bạn sẽ được hiểu về một nhạc cụ đặc trung nơi đây: Chiếc đàn Gáo Đàn (Ðàn Hồ): Đàn Gáo là nhạc cụ họ dây, chi cung kéo; bầu cộng hưởng làm bằng sọ dừa khô. Vì hình dạng trông giống cái gáo múc nước làm từ sọ dừa khô nên gọi là Đàn Gáo. Đàn Gáo là sáng tạo dân gian của Việt Nam. Những người mới vào nghề hát xẩm (xẩm chợ) thường dùng loại đàn này. Trong miền Nam, đàn Gáo thường xuyên được các nghệ nhân diễn tấu trong dàn nhạc của Cải Lương và Đờn Ca Tài Tử.

    Và tại đây ta còn được nghê âm thanh của đàn Tỳ Bà: "Bốn dây thành một con đò...".  Mặc dù có xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc.

    Kỹ thuật gảy đàn tỳ bà có độ khó khá cao, là một trong những loại nhạc cụ dân gian có sức biểu cảm phong phú nhất, lịch thiệp và hàm chứa thông điệp không thể diễn tả bằng lời.

    Màu âm đàn Tỳ Bà trong sáng, vui tươi, thể hiện tính chất tươi sáng và trữ tình. Màu âm hơi giống đàn Nguyệt nhưng có phần hơi đanh và khô hơn, nhất là ở những khoảng âm cao. Vì thế, đàn Tỳ Bà thường để độc tấu các bản nhạc cổ truyền Dân tộc, khả năng độc tấu rất phong phú hay sử dụng trong các Ban nhạc Tài tử, Phường Bát âm, Dàn nhạc Cung đình Huế, Dàn nhạc Cải lương, đặc biệt gần đây được đưa vào Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp hòa tấu và Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc.

    non_qh2_500

    *  *  *  *   *  

    Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển rộng, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay như sự thủy chung, son sắt.

    Với nội dung trang trí như vừa trình bày, một lần nữa, chúng tôi muốn tôn vinh chiếc nón lá quê hương, đồng thời muốn giới thiệu thêm về nét đẹp văn hóa  phi vật thể tiếng đàn, điệu sáo…. độc đáo của dân tộc đến với bè bạn khắp nơi nơi.

    Dịu dàng chiếc nón thân thương
    Trải bao mưa nắng thơm hương quê nhà
    Nhịp đàn, điệu sáo… ngân nga
    Tâm hồn Việt - bản hòa ca xanh ngời…

     Hoàng Oanh


    Nhắn tin cho tác giả
    Thân Thị Hoàng Oanh @ 09:13 29/04/2019
    Số lượt xem: 167
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Áo tơi cùng với nón cời
    Mẹ tôi che cả một đời chồng con

     
    Gửi ý kiến