BẠN ĐẾN THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VISITORS

    Flag Counter

    I LOVE YOU

    9 khách và 0 thành viên

    TÀI NGUYÊN WEB

    OẲN TÙ TÌ

    EM NGÀN NĂM

    ĐIỆU DÂN VŨ

    Xứng danh trường Hồ Văn Cường

    BIỂN NHỚ

    oanhsb

    Mai em đến

    Xin biển đừng êm dịu

    Thôi thì thầm

    giai điệu du dương…

    LỜI HAY

    iloveyou

    DU LỊCH VIỆT NAM

    Gốc > KINH NGHIỆM SƯ PHẠM > Về sáng tác thơ văn >

    Cách gieo vần và các loại thể thơ

    Thơ Lục Bát 

    Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất. Vần thơ lục bát có thể phân tách như sau: 

    2 4 6 
    bằng trắc bằng 
    2 4 6 8 
    bằng trắc bằng bằng 

    Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và 8 tuy cùng vần bình nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu. 

    Thôn đoài ngồi nhớ thôn Ðông 
    Một người chín nhớ mười mong một người 
    Gió mưa là bệnh của trời 
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. 
    Nguyễn Bính 

    Bỗng dưng buồn bã không gian 
    Mây bay lũng thấp giăng màn âm u 
    Nai cao gót lẫn trong mù 
    Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về. 
    Huy Cận 

    Có hai ngoại lệ trong thơ lục bát: 

    1. Tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu. 

    Người nách thước, kẻ tay đao 
    Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi. 
    Nguyễn Du 

    2. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau: 

    Đêm nằm gối gấm không êm 
    Gối lụa không mềm bằng gối tay em. 

    Thơ Song Thất Lục Bát 

    Đây cũng là một thể thơ đặc thù của VN, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình, 7 trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ. 
    Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát. Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bình. Do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay bằng. 

    3 5 7 
    trắc/bằng bằng trắc 
    3 5 7 
    bằng trắc bằng 

    Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt, 
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung. 
    Thành liền mong tiến bệ rồng, 
    Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời. 
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, 
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. 
    Giã nhà đeo bức chiến bào, 
    Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu. 
    Đặng Trần Côn 

    Thơ Bốn Chữ 

    Nếu tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc; ngược lại, tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng. 

    2 4 
    trắc bằng 
    2 4 
    bằng trắc 

    Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo luật đó. 

    Cách gieo vần 

    1. Vần tiếp (ít dùng) 
    Lính đóng ven rừng 
    Giữa mùa nóng nực 
    Uống cạn hố nước 
    Thấy toàn đầu lâu 
    Thịt rữa đi đâu 
    Còn xương trắng nhỡn 
    Trần Đức Uyển 

    2. Vần tréo 

    Tôi làm con gái 
    Buồn như lá cây 
    Chút hồn thơ dại 
    Xanh xao tháng ngày 
    Nhã Ca 

    Người từ trăm năm 
    Về ngang sông rộng 
    Ta ngoắc mòn tay 
    Trùng trùng gió lộng 
    Nguyễn Tất Nhiên 

    3. Vần ôm 

    Em tan trường về 
    Ðường mưa nho nhỏ 
    Chim non giấu mỏ 
    Dưới cội hoa vàng 
    Phạm Thiên Thư 

    4. Vần ba tiếng (ít dùng) 

    Sao biếc đầy trời 
    Sầu trông viễn khơi 
    Ðêm mờ im lặng 
    Nhìn hạt sương rơi 
    Khổng Dương 

    Em là ánh trăng 
    Vừa biếc vừa xanh 
    Em là giấc mộng 
    Ðêm xuân của anh 
    Huyền Kiêu 

    Thơ Năm Chữ 

    Cũng giống như thơ bốn chữ: nếu tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng, hay ngược lại. Nhưng cũng có nhiều trường hợp không phải vậy. 

    Hôm nay đi chùa Hương 
    Hoa cỏ mờ hơi sương 
    Cùng thầy me em dậy 
    Em vấn đầu soi gương 
    Nguyễn Nhược Pháp 

    Cách gieo vần 

    1. Vần tréo 

    Hôm nọ em biếng học 
    Khiến cho anh bất bình, 
    Khẽ đánh em cái thước 
    Vào bàn tay xinh xinh 
    Nguyễn Xuân Huy 

    Trước sân anh thơ thẩn 
    Đăm đăm trông nhạn về 
    Mây chiều còn phiêu bạt 
    Lang thang trên đồi quê 
    Hàn Mặc Tử 

    2. Vần ôm 

    Em không nghe rừng thu, 
    Lá thu kêu xào xạc, 
    Con nai vàng ngơ ngác 
    Đạp trên lá vàng khô? 
    Lưu Trọng Lư 

    3. Vần ba tiếng bằng 

    Tuyết rơi mong manh buồn 
    Ga Lyon đèn vàng 
    Cầm tay em muốn khóc 
    Nói chi cũng muộn màng. 
    Cung Trầm Tưởng 

    Đưa em về dưới mưa 
    Nói năng chi cũng thừa 
    Phất phơ đời sương gió 
    Hồn mình gần nhau chưa? 
    Nguyễn Tất Nhiên 

    Thơ Sáu Chữ 

    Cách gieo vần 

    1. Vần tréo 

    Quê hương là gì hở mẹ 
    Mà cô giáo dạy phải yêu 
    Quê hương là gì hở mẹ 
    Ai đi xa cũng nhớ nhiều 
    Đỗ Trung Quân 

    2. Vần ôm 

    Xuân hồng có chàng tới hỏi: 
    - Em thơ, chị đẹp em đâu? 
    - Chị tôi tóc xõa ngang đầu 
    Đi bắt bướm vàng ngoài nội 
    Huyền Kiêu 


    Nếu bước chân ngà có mỏi 
    Xin em tựa sát lòng anh 
    Ta đi vào tận rừng xanh 
    Vớt cánh vông vàng bên suối 
    Đinh Hùng 

    Thơ Bảy Chữ 

    Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau: 

    2 4 6 
    bằng trắc bằng 
    2 4 6 
    trắc bằng trắc 

    Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời 
    Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi! 
    Long lanh tiếng sỏi vang vang hận: 
    Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người 
    Xuân Diệu 

    Nhiều khi không lại như thế: 

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ 
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên 
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc, 
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền. 
    Hàn Mặc Tử 

    Cách gieo vần 

    1. Vần tréo (thường dùng) 

    Nhiều khi trong thi đoạn bốn câu, chỉ cần hai tiếng bình ở cuối câu hai và bốn vần với nhau, hai tiếng trắc cuối câu một và ba không cần: 

    Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn, 
    Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ! 
    Một hôm trận gió tình yêu lại: 
    Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ. 
    Huy Cận 

    Ta về cúi mái đầu sương điểm 
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời 
    Cảm ơn hoa đã vì ta nở 
    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi 
    Tô Thùy Yên 

    2. Vần ba tiếng bằng (thường dùng) 

    Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong, 
    Hôm xưa em đến, mắt như lòng, 
    Nở bừng ánh sáng. Em đi đến, 
    Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng. 
    Huy Cận 

    Dĩ vãng nào xanh như mắt em? 
    Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm! 
    Hàng mi khuê các chìm sương phủ 
    Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm. 
    Đinh Hùng 

    Em ở thành Sơn chạy giặc về 
    Tôi từ chinh chiến cũng ra đi 
    Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt 
    Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì 
    Quang Dũng 

    Thơ Tám Chữ 

    Thể thơ này không có quy luật nhất định, có nghĩa là vần điệu tự do hơn. Thường thì trong câu ở cuối có tiếng trắc thì tiếng 3 trắc, tiếng 5 và 6 bằng; ở cuối có tiếng bằng thì tiếng 3 bằng, tiếng 5 và 6 trắc. Nhưng nhiều lúc cũng không như thế. 

    Cách gieo vần 

    1. Vần tiếp 

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, 
    Tôi sẽ trách -- cố nhiên -- nhưng rất nhẹ; 
    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, 
    Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề 
    Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở. 
    Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ, 
    Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa... 
    Hồ Dzếnh 

    2. Vần tréo 

    Hai đứa kéo nhau chạy vào mộng mị 
    Giờ tắt thở nằm trên bãi hư vô 
    Bầy ngựa chứng hàng thùy dương vó bão 
    Gió đưa trăng lăn vào đá tiếng ru 
    Tô Thùy Yên 

    Em sẽ chết với mảnh hồn trống đó 
    Chúa đứng đón em ở cửa thiên đường 
    Con trả chúa trái tim hồng lãng mạn 
    Dưới thế gian con dại dột cho chàng 
    Trần Mộng Tú 

    3. Vần ôm 

    Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc 
    Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường. 
    Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương 
    Tôi thay mực cho vừa màu áo tím. 
    Nguyên Sa 

    Không có em, chắc ngày mai anh chết 
    Anh sẽ buồn, sẽ kết tội trần gian 
    Nắng sẽ phôi pha, hoa sẽ úa tàn 
    Cây thành phố hai hàng giăng nước mắt 
    Vũ Thành 

    Muốn cho thơ tám tiếng thêm âm điệu, một số nhà thơ thường vần tiếng 8 câu trên với tiếng 5 hay 6 câu dưới: 

    Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi 
    Những hào hùng, uất hận gối lên nhau 
    Cao Tần 

    *****

    I. Vần trong thơ 

    Vần bằng : là những chữ không có dấu hoặc mang dấu bằng 

    Vần trắc: là những chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng 

    Đã làm thơ là phải gieo vần, không có vần thì dù hay đến mấy cũng không thể gọi là thơ được . Những chữ có cách viết và cách phát âm tương tự nhau thì gọi là vần . Ví dụ như : hoa-hòa , mây-bầy , hương-thường , đời - người v.v.v. 

    II. Cách gieo vần trong thơ bảy chữ 

    1. Cách thứ nhất :Trong khổ thơ gồm 4 câu, gieo vần ở cuối câu 1,2, 4 

    Ví dụ : 

    Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời 
    Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi 
    Long lanh tiếng sỏi vang vang hận 
    Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người 

    Chú ý : theo cách gieo vần này, chữ cuối câu 1,2,4 là vần bằng và chữ cuối câu 3 là vần trắc . 

    2. Cách thứ hai : Gieo vần ôm - Chữ cuối câu 1 vần với câu 4, chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 3 

    Ví dụ : 

    Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi 
    Qua những sân cung rộng hải hồ 
    Có phải A Phòng hay Cô Tô ? 
    Lá liễu dài như một nét mi 

    3. Cách thứ ba : Gieo vần chéo 

    Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4 

    Ví dụ : 

    Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh 
    Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần 
    Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm 
    Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân 

    Chú ý : để câu thơ được nhịp nhàng, ở chữ 2,4,6 của câu thơ, nên gieo vần bằng, trắc, bằng hoặc trắc, bằng, trắc 

    Ví dụ 

    bốn bề ánh nhạc biển pha lê B-T-B 

    sương bạc làm thinh khuya nín thở T-B-T 

    Cách gieo vần trong một khổ thơ 

    Sau khi đã gieo vần bằng trắc nhịp nhàng ở mỗi câu thơ, bạn cần chú ý đến kết hợp vần của 4 câu thơ trong cả khổ thơ . 

    1.Cách thứ nhất : 

    Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2,4,6 của mỗi câu 

    Câu 1 :B-T-B 
    Câu 2 :T-B-T 
    Câu 3: T-B-T 
    Câu 4 : B-T-B 

    Ví dụ : 
    Bốn bề ánh nhạc biển pha lê B-T-B 
    Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề T-B-T 
    Sương bạc làm thinh, khuya nín thở T-B-T 
    Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê B-T-B 

    2. Cách thứ hai : 
    Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2,4,6 của mỗi câu 

    Câu 1 :T-B-T 
    Câu 2 :B-T-B 
    Câu 3: B-T-B 
    Câu 4 : T-B-T 

    Ví dụ : 

    phơ phất ngoài hiên, dáng liễu hoa T-B-T 
    sương sa man mác gió xuân tà B-T-B 
    cảnh khuya gợi nỗi niềm xa xứ B-T-B 
    ánh nguyệt soi lầu chỉ bóng ta T-B-T 

    III. Cách gieo vần trong thơ lục bát 

    Khác với thơ bẩy chữ, thơ lục bát gieo vần ở cuối câu lục và ở chữ thứ 6 của câu bát theo luật như sau : 

    -Chữ cuối câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát , chữ cuối câu bát vần với chữ cuối câu lục tiếp theo, cứ như thế tiếp tục . 
    ví dụ : 

    Khúc đâu Tư mã Phượng cầu, 
    Nghe ra như oán như sầu phải chăng ! 
    Kê Khang này khúc Quảng lăng, 
    Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân 

    - các chữ thứ 2,4,6 của câu lục phải là bằng, trắc, bằng 

    Ví dụ : Trong như tiếng hạc bay qua B-T-B 

    -Các chữ thứ 2,4,6,8 của câu bát phải là bằng, trắc, bằng, bằng 

    ví dụ : đục như tiếng suối mới sa nửa vời B-T-B-B 

    Cách Làm Thơ Tám Chữ 

    . Trong một câu, nên có sự cân bằng giữa số lượng các vần bằng và vần trắc ví dụ Bằng /Trắc = 3/5 hay ngược lại . Vần bằng trắc cũng nên xen kẽ đều đặn để câu thơ uyển chuyển nhịp nhàng . Gieo vần thì có nhiều cách, đệ có thể theo các cách tương tự như gieo vần thơ 7 chữ như sau : 

    1. Gieo vần ôm : 

    - Chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4, cuối câu 2 vần với cuối câu 3 . 

    Ví dụ : 
    Ngươi ám ảnh hương thơm bằng ánh sáng 
    Ru màu êm, mà gọi thức lòng ngây 
    Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây 
    Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh choáng 

    2. Gieo vần chéo : 

    Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, và/hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4 

    Ví dụ 

    Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc ! 
    Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian ! 
    Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt ! 
    Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn 

    Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa 
    Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi 
    Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa 
    Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi 

    3. Chữ cuối câu 1 vần với chữ 5 hay 6 câu 2 , chữ cuối câu 2 vần với chữ cuối câu 3 và vần với chữ 5 hay 6 câu 4 

    Ví dụ : 

    cõi thiên tiên kiều diễm ngàn ảo ảnh 
    điện nguy nga tỏa muôn ánh pha lê 
    thuyền Từ Thức bồng bềnh tới bến mê 
    rồi ngơ ngẩn khi trở về hiện thực 

    Chú ý : bằng vần với bằng, trắc vần với trắc . Bằng không bao giờ vần với trắc . Ví dụ :lồng không vần với lộng 

    Nếu làm thơ nhiều đoạn, chữ cuối câu 4 của đoạn trước luôn vần với chữ cuối câu 1 của đoạn sau 

    Ví dụ : 

    Làm thi sĩ , nghĩa là ru với gió 
    Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây, 
    Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây, 
    Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến 

    Đây là quán tha hồ muôn khách đến 
    Đây là bình thu hợp trí muôn hương; 
    Đây là vườn chim nhả hạt mười phương, 
    Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc

    --------------------------------------------------------------------------------

    THẤT NGÔN BÁT CÚ 

    Thất ngôn bát cú (7 tiếng 8 câu) là thể cơ bản của thơ Đường luật. 

    Về Vần: Trong 7 tiếng 8 câu thì tiếng cuối câu một và các câu chẳn vần với nhau (vần chân và độc vận). Vần chủ yếu là vần bằng; cũng có vần trắc nhưng ít gặp hơn. 

    Về Luật: Có sự luân phiên bằng-trắc tạo nên nhịp cơ bản: 2-2-3 trong mỗi câu thơ. Phổ biến là luật bằng - vần bằng: tiếng thứ hai và tiếng thứ bảy ở câu một là bằng. 
    Sơ đồ như sau: 

    1 bB tT tBB (vần) 
    2 tT bB tTB (vần) 
    3 tT bB bTT 
    4 bB tT tBB (vần) 
    5 bB tT bBT 
    6 tT bB tTB (vần) 
    7 tT bB bTT 
    8 bB tT tBB (vần) 

    Chú ý: nhất, tam, ngũ bất luận 
    nhị, tứ, lục phân minh 

    Ví dụ: 

    Hà Nam Tức Sự 

    Hà Nam danh giá nhất ông cò, 
    Trông thấy ai ai chẳng dám ho. 
    Hai mái trống tung đành chịu dột, 
    Tám giờ chuông đánh phải nằm co. 
    Người quên mất thẻ âu trời cãi, 
    Chó chạy ra đường có chủ lo. 
    Ngớ ngẩn đi xia may vớ được, 
    Phen này ắt hẳn kiếm ăn to. 

    Trần Tế Xương 

    Tức Sự: cảm hứng trước những sự trông thấy. Thơ tức sự là một lối thơ nhân thấy một việc gì mà làm ra. 

    Cũng có thể có luật trắc - vần bằng: tiếng thứ hai của câu một là trắc và tiếng thứ bảy ở câu một là bằng. 

    Ví dụ: 

    Hội Tây 

    Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo, 
    Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo. 
    Bà quan tênh nghếch xem bơi trãi, 
    Thằng bé lom khom nghé hát chèo. 
    Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún, 
    Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo. 
    Khen ai khéo vẽ trò vui thế, 
    Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu. 

    Nguyễn Khuyên 

    Về Niêm: Tức là sự liên hệ về âm luật giữa hai câu thơ chẳn và lẻ đi liền nhau: tiếng thứ hai của hai câu đó phải cùng bằng hoặc cùng trắc. Phải đúng niêm ở hai câu 2-3, 4-5, 6-7, và 8-1. 

    Về Bố Cục: Bài thơ thất ngôn bát cú phải được cấu tạo thành bốn phần như sau: 

    1- Đề: 
    Hai câu đầu gồm có: 
    - Phá đề (câu 1): mở vào bài 
    - Thừa đề (câu 2): nối với phá đề chuẩn bị chuyển tiếp sang phần sau. 

    2- Thực: 
    Hai câu tiếp: 
    - Giải thích đầu đề, bắt đầu vào thân bài. 

    3- Luận: 
    Hai câu tiếp: 
    - Bàn luận vào đầu đề, đi sâu vào thân bài. 
    - Bốn câu thực và luận yêu cầu phải đối nhau theo từng cặp. 

    4- Kết: 
    Hai câu cuối: 
    - Gói chủ đề lại và phát biểu tư tưởng, tình cảm của nhà thơ. 

    Nhìn chung, xét cả về vần, niêm, luật và bố cục, bài thơ thất ngôn bát cú là một kết cấu hoàn chỉnh, cô đúc, nhưng quá chặt chẽ và gò bó. 

    ST


    Nhắn tin cho tác giả
    Thân Thị Hoàng Oanh @ 06:40 25/07/2017
    Số lượt xem: 10313
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến