BẠN ĐẾN THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VISITORS

    Flag Counter

    I LOVE YOU

    6 khách và 0 thành viên

    TÀI NGUYÊN WEB

    EM NGÀN NĂM

    ĐIỆU DÂN VŨ

    Xứng danh trường Hồ Văn Cường

    BIỂN NHỚ

    oanhsb

    Mai em đến

    Xin biển đừng êm dịu

    Thôi thì thầm

    giai điệu du dương…

    LỜI HAY

    iloveyou

    XEM GIỜ

    DU LỊCH VIỆT NAM

    Gốc > TRANG VĂN > Cao Vân >

    Đứa con người lính đảo

    Hôm nay mình đăng lại những cảm xúc khi đọc một bài thơ rất hay về biển đảo, về sự hy sinh của người lính đảo Gạc Ma của nhà thơ Vũ Thương Giang sáng tác năm 2014. Bài thơ đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc rất hay.

    ĐỨA CON NGƯỜI LÍNH ĐẢO

    Trận Gạc Ma, cha nằm lại biển khơi
    Nhận tin dữ giữa thời khắc ấy
    Mẹ bàng hoàng, không thể gượng dậy
    Trong cơn đau, con vùng vẫy chào đời…

    Vừa sinh ra, con đã mồ côi
    Cha vĩnh viễn chẳng bao giờ về nữa
    Lời ru cột tang góa bụa
    Sẫm trong mắt mẹ quầng sâu…

    Thắt vành khăn trắng nhưng nhức, mẹ cầu
    Cha hiển linh, cho con mang tên đảo:
    Hoàng Trường Sa như phong ba chắn bão
    Sẽ trung kiên, hiếu thảo với mẹ hiền!

    25 năm, chẳng thể quên
    Cha đã khắc tên vào lịch sử
    Cùng đồng đội đan “Vòng tròn bất tử”*
    Anh dũng hy sinh, gìn giữ lá cờ hồng…

    Và hôm nay lại trào sóng biển Đông
    Quân bành trướng lăm le bờ cõi
    Cha yêu ơi! Con thấy mình cứng cỏi
    Quyết lên đường giữ đảo, nối nghiệp cha…

    Mẹ thắp hương, mắt đẫm lệ nhạt nhòa
    Trao đứa con duy nhất cho Tổ quốc
    Cả mảnh cờ đào kỷ vật mẹ có được
    Thấm máu cha xưa, vì nước quên thân!

    Con sẽ đặt kỷ vật đó thật gần
    Nơi trái tim thanh tân trong ngực trẻ
    Hãy truyền con sức mạnh cha nhé
    Chiến thắng kẻ thù, giành lại đảo Hoàng Sa

    Con sẽ cùng mẹ thả những vòng hoa
    Cho đồng đội và Cha yên nghỉ
    Dưới lòng đại dương bao la, hùng vĩ
    Canh giữ biển trời giữ đất Mẹ Việt Nam

    Cả đất nước ta đang sống trong những ngày nóng bỏng không phải bởi mùa hè rực lửa, mà bởi cái sục sôi của sóng biển đông đang trào lên nơi đảo xa. Giàn khoan Haiyang Shiyou-981 của Trung Quốc đã ngang nhiên cắm sâu vào thềm lục địa thuộc đặc quyền khai thác kinh tế của Việt nam. Hành động xâm phạm trắng trợn này khiến công đồng quốc tế bất bình, hơn 90 triệu người Việt bừng bừng lửa giận. Bà con Việt Kiều ở khắp nơi trên thế giới đã nhuộm đỏ mầu cờ sắc áo trong các cuộc tuần hành biểu tình, kéo đến tòa Đại sứ quán Trung quốc ở các nước sở tại để lên án hành động ngang ngược này. Chiếc giàn khoan của người láng giềng khổng lồ kia đã khoan vào điều thiêng liêng nhất của một dân tộc đó là hai chữ “chủ quyền", vô tình làm trỗi dậy mãnh liệt lòng yêu nước của bao người dân nước Nam tưởng như đang chìm vào giấc ngủ đông. Mỗi người bày tỏ lòng yêu nước của mình bằng mỗi cách khác nhau. Đã có rất nhiều bức tranh biếm họa thâm thúy, bao bài báo, bài thơ ra đời như một thông điệp truyền tải lòng yêu nước, một tiếng nói góp phần tạo nên sức mạnh đoàn kết của dải lụa hình chữ S trước lâm nguy của Tổ Quốc. Chính trong thời điểm này một sự tình cờ hay có lẽ do cơ duyên tôi đã bắt gặp bài thơ “Đứa con người lính đảo” của tác giả Vũ Thương Giang trên một trang báo , một câu chuyện đã lấy đi những giọt nước mắt lăn dài nơi tôi.
    “Đứa con người lính đảo” đã gây ấn tượng mạnh cho tôi ngay ở tựa đề của nó. Ba từ “người lính đảo” đã khiến tôi mường tượng tới những người lính đang từng giờ, từng phút đối mặt với hiểm nguy nơi đầu sóng. Nơi ấy "chỉ có loài chim biển với sóng vỗ ngàn trùng quanh đảo trúc san hô". Nó khiến tôi như đang nghe thấy lời một bài ca vang vọng, tha thiết: “Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa. Quần đảo đứng hiên ngang thiên hùng ca ngời sáng”. 
    Nhưng tại sao tác giả lại hướng người đọc tới hình ảnh của “đứa con” mà không phải là người lính ấy? Có lẽ điều đặc biệt của bài thơ nằm ở đây, bởi “đứa con” chính là một sự kết nối về thời gian giữa hai thế hệ, về không gian giữa nơi đảo xa với đất Mẹ. Phải chăng chính cái tên của bài thơ không chỉ ẩn chứa hai chữ chủ quyền thiêng liêng, mà còn mang đến cho tôi sự tò mò về hoàn cảnh của đứa con này.
    Trận Gạc Ma, cha nằm lại biển khơi
    Nhận tin dữ giữa thời khắc ấy
    Mẹ bàng hoàng, không thể gượng dậy
    Trong cơn đau, con vùng vẫy chào đời
    Tác giả đang đưa người đọc tới trận hải chiến Trường sa đẫm máu của 26 năm về trước. Hai từ “Gạc Ma” được mở đầu cho bài thơ như thể đó là hai từ mà bất kỳ người dân Việt Nam nào đều không được phép lãng quên. Bởi đó chính là hai từ vô cùng đau thương khi nói về chủ quyền biển đảo. Bao chiến sĩ hải quân Việt nam đã nằm lại dưới lòng đại dương trong đó có một người “cha” chưa kịp nhìn thấy đứa con thân yêu của mình. 
    Bốn câu thơ ngắn ngủi thôi nhưng đã đưa tôi đến với một thước phim sống động về một gia đình có ba thành viên ở ba bi kịch khác nhau, nhưng dường như bao nỗi đau thương nhất lại dồn lên đôi vai mỏng manh của người vợ trẻ nơi quê nhà khiến tôi lặng đi. Nỗi đau ấy còn như được nhân lên khi người vợ “Nhận tin dữ giữa thời khắc ấy”. Cái “thời khắc” chị đang mang trong mình một sinh linh bé nhỏ, kết quả ngọt ngào từ tình yêu với người chồng là chiến sỹ đang làm nhiệm vụ ngoài hải đảo xa xôi, đã khiến chị ”bàng hoàng, không thể gượng dậy”. "Bàng hoàng” mà không phải một từ nào khác. Cái "tin dữ" kia đến một cách bất ngờ đến sửng sốt, đột ngột đến đau đớn tột cùng khiến người mẹ đổ gục. Có phải sự “bàng hoàng” của người vợ trẻ nơi quê nhà cũng chính là sự “bàng hoàng” của cả dân tộc ta khi nhận “tin dữ” Đảo đá Gạc Ma đã bị kẻ thù cưỡng chiếm? Trong tột cùng nỗi đau riêng là nỗi đau chung bao trùm lên cả đất nước trước tổn thất quá lớn của các chiến sỹ đã anh dũng hi sinh mà đảo vẫn rơi vào tay kẻ thù? 
    Và trong cái khoảng lặng mênh mông, tưởng chừng như không thể phá vỡ ấy có một tiếng gọi vang lên từ cơ thể mẹ: “Trong cơn đau con vùng vẫy chào đời”. “Vùng vẫy” mới tuyệt vời làm sao. Nó khiến tôi liên tưởng tới một sức sống mãnh liệt trong nghiệt ngã, vượt qua cả sự không hoàn hảo của tạo hóa ban cho. Có phải “Đứa con” ở đây vẫn còn nằm trong bụng mẹ vì chưa đủ tháng đủ ngày, nhưng dường như đã có sự linh báo của sợi dây ruột thịt mà đứa trẻ như cảm nhận được nỗi đau của mẹ, trọng trách phải thay cha ở bên mẹ, làm nguồn vui điểm tựa cho mẹ …và như có một phép mầu kỳ diệu cái sinh linh bé bỏng ấy đã tự mình “vùng vẫy” giúp mẹ trong cơn đau để chào đời, một sự “vùng vẫy” quyết liệt để bám sống, một khát khao sinh tồn bản năng, đồng thời nó cũng khiến tôi cảm nhận một điều lớn lao hơn: dường như lòng yêu nước, khí phách hiên ngang đã chảy sẵn trong huyết quản của “đứa con”, của mỗi người dân mang trong mình dòng máu Lạc hồng?
    Khổ thơ đầu tiên như một thước phim cuốn hút với đầy đủ kịch tính, mâu thuẫn đến dồn dập và được đẩy tới cao trào, mang bao cảm xúc cho người đọc bởi ai cũng được sinh ra từ nỗi đau của mẹ, nhưng nỗi đau mà người mẹ trong bài thơ phải nặng mang thì không gì so sánh được.
    Sinh ra trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, người mẹ cùng lúc gánh chịu hai nỗi đau : một nỗi đau tinh thần và một nỗi đau thể xác. Mẹ cố dồn hết sinh lực còn lại, rách mình để cho con được chào đời khiến người đọc vừa cảm phục lại vừa xót xa . Nhất là tiếng khóc chào đời của con lại có “vành khăn trắng”, cùng “lời ru cột tang goá bụa” của mẹ. 
    Vừa sinh ra, con đã mồ côi
    Cha vĩnh viễn chẳng bao giờ về nữa
    Lời ru cột tang góa bụa
    Sẫm trong mắt mẹ quầng sâu…
    Thắt vành khăn trắng nhưng nhức, mẹ cầu
    Cha hiển linh, cho con mang tên đảo:
    Hoàng Trường Sa như phong ba chắn bão
    Sẽ trung kiên, hiếu thảo với mẹ hiền!
    Thật xót xa khi đứa trẻ :”Vừa sinh ra con đã mồ côi”. Đêm đêm mẹ quầng sâu đôi mắt ầu ơ vỗ về, thức ru bằng “Lời ru cột tang góa bụa” có ai không nghẹn đắng trong lòng?. Hình ảnh “vành khăn trắng” thường khiến chúng ta liên tưởng đến cảnh buồn đau của phân ly tử biệt. Nhưng ở đây tác giả đã rất khéo léo khi nhắc đến vành khăn tang trong câu thơ tinh tế mà đau đáu xót thương : “Thắt vành khăn trắng nhưng nhức, mẹ cầu”.Tác giả sử dụng từ láy “nhưng nhức” gợi lên cái đau nhức nhối âm ỉ trong cơ thể, sự nhức nhối thổn thức không thể nguôi ngoai trong lòng người thiếu phụ trẻ. Vành khăn trắng của con là thờ cha, là nỗi niềm của đứa con mồ côi, là khát khao tình phụ tử. Nỗi niềm này người khác có thể hiểu và chia sẻ được. Còn vành khăn trắng của mẹ là thờ chồng, là vành khắn “nhưng nhức” đau thương mà chỉ mình mẹ thấu hiểu mà thôi. Bất giác tôi nhớ tới lời ca trong một bài hát vô cùng xúc động về mẹ:
    Thời gian trôi qua 
    Vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng 
    Nhưng vết thương lòng mẹ vẫn còn nặng mang”
    Vết thương lòng của mẹ mãi còn “nhưng nhức” theo suốt năm tháng cuộc đời. Và liệu có phải “Lời ru cột tang goá bụa” là một lời ru đặc biệt, không chỉ có sự ngọt ngào của tình mẫu tử mà còn ướt sũng niềm tủi hờn, xen lẫn nhớ thương đau khổ, đượm nghĩa tình thuỷ chung của người vợ trẻ khóc chồng thương con? Lời ru ấy đã lan toả theo thời gian thấm vào tâm hồn con hứa hẹn về một chàng trai kiên cường như “phong ba chắn đảo”. 
    Tác giả đã mượn hình ảnh cây phong ba – một loài cây đặc biệt, là biểu tượng của sự trường tồn, mạnh mẽ chịu đựng được ở điều kiện khí hậu khắc nghiệt và có sức sống mãnh liệt, bền bỉ để so sánh với hình ảnh đứa con người lính đảo! Lối so sánh ẩn dụ thật tuyệt vời bởi từ “phong ba “còn mang một nghĩa đen : sóng to gió lớn vẫn kiên cường, bất khuất như tinh thần của dân tộc Việt nam chúng ta. 
    Nhưng cảm xúc đặc biệt nhất của tôi trong khổ thơ này lại chính là cái tên Hoàng Trường Sa. Đứa con được mang họ Hoàng của Cha và tên gọi là quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc, nơi mà cha đã ngã xuống năm xưa. Cái tên không phải ngẫu nhiên mà có .Một cái tên thôi nhưng người mẹ đã phải trăn trở rồi thắp hương khấn nguyện chồng xin đặt cho con thật ý nghĩa biết nhường nào! Nó mang sứ mệnh của lịch sử để nhắc cho người con nhớ đến nơi người cha và đồng đội đã yên nghỉ. Nhớ đến hòn đảo mà kẻ thù đã dùng sức mạnh cưỡng chiếm. 
    “Mẹ” ở đây đã vượt ra khỏi phạm vi ở nghĩa đơn thuần là người mẹ đã sinh ra đứa con mang tên Hoàng Trường Sa, mà vĩ đại hơn, to lớn hơn hơn đó chính là Mẹ Tổ quốc thiêng liêng. Hoàng Trường Sa cũng không chỉ còn là riêng của mẹ mà còn có ý nghĩa cao cả hơn: đó là tên gọi chung của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là máu thịt của đất mẹ Việt Nam. Vẫn lối so sánh đầy hình ảnh ẩn dụ để toát lên sự gắn bó mẫu tử thiêng liêng giữa tình riêng với tình chung của dân tộc.
    25 năm, chẳng thể quên 
    Cha đã khắc tên vào lịch sử 
    Cùng đồng đội đan “Vòng tròn bất tử”* 
    Anh dũng hy sinh, gìn giữ lá cờ hồng… 
    Và hôm nay lại trào sóng biển Đông 
    Quân bành trướng lăm le bờ cõi 
    Cha yêu ơi! Con thấy mình cứng cỏi 
    Quyết lên đường giữ đảo, nối nghiệp cha…
    Hơn 25 năm đã trôi qua kể từ “thời khắc” ấy con giờ đã trưởng thành, đã hiểu về cái “Vòng tròn bất tử” mà cha và đồng đội đã đan vào nhau tạo lên để chắn giữ lá cờ đào, khẳng định chủ quyền của Việt nam trên đảo đá Gạc Ma năm xưa. Sự hy sinh anh dũng của cha và những người đồng đội đã ”khắc tên vào lịch sử “, thôi thúc người con cũng như lớp lớp thế hệ trẻ hăng hái lên đường, xung phong ra biển đảo để bảo vệ quê hương. 
    Trong câu thơ “Cha yêu ơi ! Con thấy mình cứng cỏi” ta bắt gặp cụm từ “cứng cỏi” rất hay. Đứa con chào đời đúng lúc mẹ hay tin cha hy sinh, vừa chào đời đã trở thành mồ côi ấy giờ đã không chỉ lớn khôn mà còn hơn thế, đã có đủ dũng và trí để ” Quyết lên đường giữ đảo nối nghiệp cha”. 
    Mẹ thắp hương, mắt đẫm lệ nhạt nhòa
    Trao đứa con duy nhất cho Tổ quốc
    Cả mảnh cờ đào kỷ vật mẹ có được
    Thấm máu cha xưa, vì nước quên thân!
    Đã hơn một lần chúng ta bắt gặp hình ảnh mẹ thắp hương trong bài thơ.Thường thì người Việt ta mỗi khi dâng hương đều liên quan đến những sự việc quan trọng. Dâng hương như một sợi dây kết nối với vong linh người đã khuất, với các đấng linh thiêng để bày tỏ lòng thành kính, cầu mong những điều may mắn, và đôi khi chỉ đơn giản là làm ta thêm ấm lòng. Có thể nói tác giả Vũ Thương Giang tuy là một người Việt xa xứ nhưng vẫn mang trong mình giá trị truyền thống, mang cốt cách tâm hồn thuần Việt bởi rất am hiểu và giữ nguyên những giá trị văn hóa cũng như đời sống tâm linh của cội nguồn. 
    Hình ảnh “mẹ thắp hương, mắt đẫm lệ nhoà” được tác giả gửi gắm trong khổ thơ này khiến tôi đặc biệt trăn trở. 26 năm về trước mẹ đã thắp hương cho người chồng, người cha của đứa con mình ra đi mãi mãi. Hôm nay mẹ lại làm cái việc đó bởi một nỗi lòng lo lắng mơ hồ trước điều xấu nhất có thể xảy ra với “đứa con. Có người mẹ nào không khóc, không phập phồng lo âu với đứa con yêu quí của mình đang từng giờ, từng phút đối mặt với hiểm nguy khi sóng Biển đông đang thét gào giận dữ? Nhưng với “Đứa con người lính đảo “này lại càng đặc biệt hơn vì người mẹ 26 năm dồn hết tình thương yêu dành cho đứa con –báu vật cuối cùng của tình yêu năm xưa người chồng để lại, giờ mẹ lại ngậm ngùi “trao đứa con duy nhất cho Tổ Quốc. Đôi mắt của mẹ đã “đẫm lệ nhoà” hay chính khoé mắt của những người đọc như tôi đang nhoà đi bởi sự xót xa, niềm khâm phục và lòng biết ơn vô bờ bến với người mẹ.!”. Mẹ sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc những người con anh hùng, những người con đang ngày đêm “Canh giữ biển trời giữ đất Mẹ Việt Nam. 
    Kỷ vật quí giá là mảnh cờ đào thấm máu chồng và đồng đội năm xưa mẹ cũng trao cho con mang theo bên mình như để cầu mong con bền lòng, vững chí tiếp tục sự nghiệp của người Cha. Hành động trao lại kỷ vật là mảnh cờ đào thấm máu ấy còn mang một ý nghĩa tâm linh khác: đó là mong người con luôn được bình an và được người Cha anh linh phù hộ chở che, giữ tròn bổn mạng cho đứa con . 
    Bằng cách nói giảm (nói tránh) tinh tế đến tuyệt vời qua động từ “thắp nhang” ý tứ thơ dường như uyển chuyển hơn, sự đau đớn dường như được xoa dịu. Nhưng chính sự kín đáo tinh tế này của tác lại giả khiến tôi lặng đi và trào lên một niềm cảm xúc lan toả, đan xen trong tâm hồn. 
    Nếu như ở khổ thơ đầu tiên mẹ đã “bàng hoàng” khi hay tin cha nằm lại biển khơi thì ở đây mẹ lại có sự chuẩn bị về tinh thần, một sự chủ động khiến người đọc vừa xót xa, vừa cảm phục nhưng cũng đầy tự hào về sự hy sinh cao cả của mẹ. Một lòng yêu nước mà không có từ ngữ nào diễn tả được và không phải ai cũng dễ dàng làm được. Có lẽ hơn ai hết chính mẹ là người hiểu rõ một điều “chiến tranh không phải trò đùa”.
    Con sẽ đặt kỷ vật đó thật gần 
    Nơi trái tim thanh tân trong ngực trẻ 
    Hãy truyền con sức mạnh cha nhé 
    Chiến thắng kẻ thù, giành lại Hoàng Sa 
    Người con dường như cảm nhận tấm lòng của mẹ khi trao kỷ vật thiêng liêng ấy cho mình nên thầm hứa sẽ luôn đặt kỷ vật ấy ngay sát trái tim mình, cầu mong người Cha truyền cho minh sức mạnh chiến thắng kẻ thù.
    Con sẽ cùng mẹ thả những vòng hoa 
    Cho đồng đội và Cha yên nghỉ 
    Dưới lòng đại dương bao la, hùng vĩ 
    Canh biển trời giữ đất Mẹ Việt Nam!
    Nếu như cả bài thơ đã lấy đi rất nhiều nước mắt của người đọc thì khổ thơ cuối ta bắt gặp những giọt nước mắt hạnh phúc trong giấc mơ người con đã chiến thắng trở về vẹn nguyên với mẹ, cùng mẹ ra biển thả những vòng hoa cho Cha và đồng đội .Một kết thúc có hậu của bài thơ sau những gút thắt đau đớn, lo lắng đến nghẹt thở, để rồi cuối cùng mở gút thắt ấy ở khổ thơ cuối cùng làm cho ta thở phào nhẹ nhõm .

    ĐỨA CON NGƯỜI LÍNH ĐẢO không còn là một bài thơ đơn thuần mà với tôi nó như một thước phim xúc động về lịch sử chiến tranh có tiết tấu nhanh, kịch tính cuốn hút ngay từ những hình ảnh đầu tiên. Là câu chuyện kể về đứa con của người lính đảo Gạc Ma năm xưa, nhưng chính người mẹ lại mang đến cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Mẹ đã sinh ra những trái tim quả cảm và lặng lẽ dâng cho đời bản hùng ca bất tử. Mẹ chính là hiện thân của “Mẹ Việt Nam anh hùng”. Chúng ta những người con của dải đất “thon thả giọt đàn bầu” nguyện cùng nhau thắp nén tâm nhang cho “Con sẽ cùng mẹ thả những vòng hoa. Cho đồng đội và Cha yên nghỉ” để cầu mong những người lính đảo chắc tay súng “Chiến thắng kẻ thù, giành lại đảo Hoàng Sa”.
    Cám ơn tác giả Vũ Thương Giang đã có một bài thơ hay, xây dựng trên một câu chuyện có thật. Tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài thơ cũng chính là tình cảm của hơn 90 triệu người con đất Việt.


    Nhắn tin cho tác giả
    Thân Thị Hoàng Oanh @ 00:12 28/07/2017
    Số lượt xem: 176
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến