BẠN ĐẾN THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VISITORS

    Flag Counter

    I LOVE YOU

    8 khách và 0 thành viên

    TÀI NGUYÊN WEB

    EM NGÀN NĂM

    ĐIỆU DÂN VŨ

    Xứng danh trường Hồ Văn Cường

    BIỂN NHỚ

    oanhsb

    Mai em đến

    Xin biển đừng êm dịu

    Thôi thì thầm

    giai điệu du dương…

    LỜI HAY

    iloveyou

    XEM GIỜ

    DU LỊCH VIỆT NAM

    Gốc > ÔN TẬP NGỮ VĂN > Lớp 9 > Văn học >

    Tâm thức “làng nước” qua nhân vật ông Hai

    Tâm thức “làng nước” qua nhân vật ông Hai

    Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, là tấm gương phản chiếu đời sống, văn hóa. Cho nên, tiếp cận tác phẩm từ văn hoá cũng là một hướng tiếp cận khả dĩ. Ví như đọc truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, nếu không hiểu “làng” trong tâm thức văn minh lúa nước có chiều dài tới cả nghìn năm thì cũng khó mà cảm nhận hết vẻ đẹp của những người nông dân “nguyên thuỷ”. Nguyên thuỷ trong nếp sống, nếp nghĩ, trong tình cảm, trong ứng xử, trong niềm vui và nỗi buồn…Làng ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung được hình thành một cách tự nhiên theo quan niệm dân gian “đất lành chim đậu” để an cư lạc nghiệp”. Làng có luỹ tre bao bọc, đó là “cương giới” giữa làng này với làng khác. Làng có đình, chùa, bến sông ( hoặc ao làng), cây đa… Mỗi sự vật là một biểu tượng có ý nghĩa nhất định, nó khiến cho cư dân làng có quyền tự hào về nó.

    Hiểu theo nghĩa đúng đắn thì “làng” là một tế bào mà mỗi thành viên trong đó đều có quan hệ gắn bó bền vững, đó là quan hệ hàng dọc trong mỗi gia tộc ( đời ông - đời cha - đời con - đời cháu…) và quan hệ hàng ngang giữa các gia tộc với nhau ( họ Đỗ - họ Nguyễn - họ Trần,…ta quen gọi là quan hệ cộng đồng ). Có thể nói, “làng” là đơn vị tổ chức hành chính đầu tiên của người Việt, sau đó “làng” được mở rộng thành “nước” ( gồm nhiều làng liên kết với nhau để chống ngoại xâm hoặc thiên tai…). Mối quan hệ mật thiết giữa “làng” với “nước” có thể gói gọn trong một câu: “Sống ở làng, sang ở nước!”.

    Diễn giải dài dòng như trên để nói rằng: từ hàng nghìn năm qua, người nông dân Việt Nam luôn có niềm tự hào hồn nhiên và chân thành về ngôi làng của mình ( có đình to, chùa đẹp, cây đa xum xuê, bến sông nhộn nhịp, có nhiều người đỗ đạt cao, có nhiều anh hùng, tướng tá, danh nhân). Khi có giặc ngoại xâm thì làng nào đánh giặc giỏi, làng ấy sẽ được tôn vinh, ngưỡng mộ; ngược lại làng nào theo giặc sẽ bị xa lánh, tẩy chay.

    Những hiểu biết trên sẽ góp phần không nhỏ vào việc tìm hiểu vẻ đẹp của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.

    Ở truyện ngắn “Làng”, tình huống làm bộc lộ sâu sắc lòng yêu làng, yêu nước ở nhân vật ông Hai là: trong khi ở nơi tản cư, lúc nào ông cũng da diết nhớ về làng với một niềm tự hào không giấu giếm thì bỗng nghe tin làng mình đã lập tề theo giặc. Chính tình huống này đã cho thấy lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến luôn bao trùm và chi phối tình cảm quê hương ở ông Hai, đồng thời làm bộc lộ sâu sắc và cảm động tình yêu làng, yêu nước của ông.

    Trong lúc tâm trạng đang phấn chấn vì những tin tức kháng chiến vừa nghe được trong phòng thông tin thì cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đến với ông Hai quá đột ngột. Từ đây bắt đầu những diễn biến tâm trạng căng thẳng với nhiều nỗi day dứt ở nhân vật được ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tường của tác giả thể hiện rất sinh động.

    Ban đầu là những cảm xúc đột ngột hiện ra bằng các trạng thái cơ thể: cổ nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi tưởng chừng không thở được. Rồi tiếp đó là nỗi xấu hổ, đau xót khiến ông cúi gằm mặt mà đi. Nỗi đau đớn, tủi hổ về việc làng mình theo giặc khiến ông Hai cảm thấy như mình cũng là kẻ có tội, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không dám ló mặt ra đến ngoài. Sau cùng thì tâm trạng của ông Hai được biểu hiện dưới hình thức trò chuyện với đứa con út, mà thực chất là lời tự minh oan và khẳng định tấm lòng thuỷ chung của mình đối với kháng chiến để làm vợi bớt phần nào nỗi khổ tâm nặng nề từng dằn vặt ông.

    Ở đoạn kết, khi cái tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính thì một lần nữa tình yêu làng, yêu nước ở ông Hai lại được thể hiện một cách thành thực và cảm động . Ông đã thay đổi hẳn: “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy…”. Ông vui mừng phô với bác Thứ về cái tin làng Chợ Dầu theo giặc là sai sự thật. Và ông còn hào hứng khoe cả việc nhà mình bị Tây đốt nhẵn. Rồi ông vội vã, lật đật đến các nhà trong xóm để kể, để khoe về những điều đó.

    Tác giả đã rất am hiểu tâm lí của người nông dân, đặc biệt là tình cảm với làng quê, và tâm lí cộng đồng của họ. Tâm lí nhân vật ông Hai được thể hiện từ ngoại hình, cử chỉ đến ngôn ngữ, hành động. Không chỉ diễn tả chính xác, tinh tế các trạng thái tâm lí mà tác giả còn miêu tả thành công quá trình vận động, chuyển biến trong tâm trạng của nhân vật.

    Nét riêng của truyện ngắn này trong việc khai thác đề tài về tình yêu quê hương là đã nêu được mối quan hệ giữa tình cảm làng quê và tình yêu nước trong hoàn cảnh chiến tranh. Bằng cách tạo ra một tình huống có sự xung đột giữa hai tình cảm ấy, truyện đã cho thấy lòng yêu nước là tình cảm lớn bao trùm trong con người kháng chiến, nó chi phối các tình cảm khác. Tình yêu làng quê, dù có sâu nặng đến đâu cũng phải nằm trong tình yêu nước, không thể đi ngược lại với lòng yêu nước, với quyền lợi của cả dân tộc.

    Ngoài nhân vật ông Hai cũng phải kể đến những nhân vật phụ chỉ thoáng qua trong tác phẩm nhưng vẫn kịp lưu lại cái tâm thức “làng nước” thật sâu sắc và cảm động, ví như nhân vật bà chủ nhà nơi gia đình ông Hai tản cư hoặc một nhân vật vô danh là “người đàn bà cho con bú”. Bà chủ nhà có hai câu nói ngắn gọn, một là khi có tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc và một là sau khi tin đồn ấy được cải chính. Trước, bà nói: “Trên này họ đồn giăng giăng ra rằng thì là làng dưới nhà ta đi Việt gian theo Tây đấy, ông bà đã biết chưa nhỉ?...Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng Chợ Dầu khỏi vùng này không cho ở nữa”.

    Sau, bà nói: “A, thế chứ! Thế mà tớ cứ tưởng dưới nhà đi Việt gian thật, tớ ghét ghê ấy…Thôi, bây giờ thì ông bà lại cứ ở tự nhiên ai bảo sao. Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”.

    Còn “người đàn bà cho con bú” thì thật ngoa ngoắt, quyết liệt: “Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đời khổ ăn cắp ăn trộm được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một phát!”.

    “Làng nước” không chỉ là không gian sinh tồn của mọi con dân nước Việt, mà còn là nơi thờ cúng tổ tiên và các bậc tiên liệt - tức là cõi tâm linh thiêng liêng bất khả xâm phạm; do đó nỗi đau đớn nhất là nỗi đau bị giặc ngoại xâm giày xéo mồ mả tổ tiên và nỗi nhục lớn nhất là nỗi nhục cam tâm làng tay sai cho giặc. Và tình cảm yêu làng yêu nước là một tình cảm tự nhiên, nhưng trong truyện ngắn “Làng” thì tình cảm đó dường như đã trở thành một chuẩn mực đạo đức để đối nhân xử thế , có thể coi đây là sự trưởng thành về ý thức của những người nông dân như ông Hai, bà chủ nhà, “người đàn bà cho con bú”… Họ có thể ít chữ nghĩa nhưng lại có một sự mách bảo cực kì nhạy bén của tình cảm và lương tâm. Từ khía cạnh này mà xét thì truyện ngắn “Làng” của Kim Lân không chỉ là một tác phẩm văn học đơn thuần, mà còn có dáng dấp của một tuyên ngôn chính luận, rằng: Có thể chấp nhận mất tất cả, hi sinh tất cả ( nhà ông Hai bị “đốt nhẵn”), nhưng không thể để mất nước, mất tự do!

    Theo Hoàng Dân.


    Nhắn tin cho tác giả
    Thân Thị Hoàng Oanh @ 23:57 30/11/2015
    Số lượt xem: 482
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến