BẠN ĐẾN THĂM

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VISITORS

    Flag Counter

    I LOVE YOU

    3 khách và 1 thành viên
  • Trần Lý Tài
  • TÀI NGUYÊN WEB

    EM NGÀN NĂM

    ĐIỆU DÂN VŨ

    Xứng danh trường Hồ Văn Cường

    BIỂN NHỚ

    oanhsb

    Mai em đến

    Xin biển đừng êm dịu

    Thôi thì thầm

    giai điệu du dương…

    LỜI HAY

    iloveyou

    XEM GIỜ

    DU LỊCH VIỆT NAM

    Chương 10: Tuyến nội tiết

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Cô MG
    Người gửi: Thân Thị Hoàng Oanh (trang riêng)
    Ngày gửi: 12h:58' 04-02-2015
    Dung lượng: 141.5 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Chương 10: CÁC TUYẾN NỘI TIẾT VÀ TUYẾN SINH DỤC
    I – KHÁI NIỆM:
    + Tuyến ngoại tiết: Là những tuyến có ống dẫn kết thúc trên bề mặt da hay đổ vào một khoang nào đó của cơ thể.
    + Tuyến nội tiết: Là những tuyến không có ống dẫn, các chất hoá học do chúng tạo ra có hoạt tính cao và đổ thẳng vào máu.
    Các tuyến nội tiết có nguồn gốc phát sinh không giống nhau nhưng đều có đặc điểm chung:
    + Không có ống dẫn,
    + kích thước nhỏ,
    + có hệ thống mạch máu phong phú
    * Hoocmon: Là các chất hoá học có hoạt tính cao, bản chất là prôtêin hoặc các chất ít hoà tan dưới dạng steroit
    * Hoocmon có đặc điểm:
    Mỗi hoocmon đếu do một tuyến nhất định nào đó sinh ra.
    Mỗi hoocmon chỉ ảnh hưởng đến một hoặc một nhóm cơ quan nhất định trong cơ thể được gọi là cơ quan đích.
    Hoocmon đều dễ phân huỷ nên không có ảnh hưởng kéo dài.
    - Hoocmon không mang tính đặc trưng cho loài.
    1. Tuyến yên
    Nằm trong hố yên của xương bướm
    Là phần phụ phía dưới của vỏ não, nặng 0,5 g, gồm có 3 thuỳ: thuỳ trước lớn, thuỳ sau nhỏ và thuỳ giữa phát triển yếu.
    Thuỳ trước: Tiết ra hoocmon có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng: GH, TSH, ACTH, FSH, LH, LTH
    - Ưu năng: bệnh khổng lồ ở lứa tuổi trẻ, Ở người lớn: sẽ dẫn đến to đầu ngón,
    - Nhược năng: ở trẻ ngừng tăng trưởng dẫn đến tật “người lùn”, trong khi trí tuệ vẫn phát triển bình thường, tỷ lệ phát triển thân thể vẫn giữ nguyên. Ở người lớn dẫn đến sự suy mòn cơ thể.
    b) Thuỳ sau: Tiết ra 2 hoocmon chính:
    Oxitoxin: phát động sự co của dạ con lúc đẻ và sự tiết sữa.
    Vazoprexin (ADH): Kích thích sự tái hấp thu ở ống niệu
    Tổn thương thuỳ sau gây đái tháo nước
    c) Thuỳ giữa: có hoocmon MSH, kích thích sự tạo thành sắc tố trên da
    - Sơ đồ vị trí tuyến giáp và tuyến cận giáp
    2. Tuyến giáp:
    Nằm trong ranh giới giữa thanh quản và khí quản, trước sụn giáp
    Hoocmon chủ yếu của tuyến giáp là tiroxin và canxitonin
    Ưu năng tuyến giáp: gây bệnh Badơ (Basedow), bướu lồi mắt, bướu còi xương...Các triệu chứng: xuất hiện bướu cổ, người gầy, mắt lồi, mạch nhanh, đường huyết tăng, tim đập nhanh, phản xạ gân tăng, các cơ run rẩy thần kinh dễ xúc cảm, tính tình thay đổi.
    - Nhược năng: chuyển hoá giảm, cơ thể tích nước gây bệnh phù niêm (bệnh creatin), đần. Ở trẻ gây ra chứng lùn bé, trí óc kém phát triển thậm chí đần độn, sinh dục kém phát triển. Nếu chữa sớm trẻ sẽ phát triển bình thường.
    3. Tuyến cận giáp: rất nhỏ, nằm cạnh tuyến giáp, chỉ nặng 0,15g.
    Hoocmon chủ yếu là parathocmon có vai trò điều hoà chuyển hoá Ca, P.
    Ưu năng: xuất hiện các bệnh về xương, xương mất Ca có hốc dễ gãy, răng rụng. Ca trong máu tăng, hoạt động tim bị biến loạn, hưng tính thần kinh giảm nên người đờ đẫn.
    - Nhược năng: Do hàm lượng Ca thấp, hưng tính hệ thần kinh tăng gây co giật kéo dài (hiện tượng động kinh), khi lan tới các cơ hô hấp gây ngạt thở -> có thể gây tử vong. Ở trẻ em 1 – 2 tuổi đôi khi xuất hiện hiện tượng co cứng do bị thiểu năng tuyến cận giáp (do chấn thương, bị nhiễm độc, mắc các bệnh truyền nhiễm).
    4. Tuyến ức:

    - Chỉ hoạt động mạnh ở trẻ em, lớn dần đến tuổi dậy thì và sau đó giảm dần.
    - Tuyến ức có vai trò với sự phát triển giới tính của trẻ, đảm bảo cho tuyến sinh dục phát triển bình thường.
    5. Tuyến tuỵ: Là một tuyến pha có 2 chức năng:
    Chức năng ngoại tiết: tiết dịch tuỵ có tác dụng tiêu hoá
    - Chức năng nội tiết: Do các đảo tuỵ tiết hoocmon
    + Insullin: Do các tế bào β của đảo tuỵ tiết ra. Là hoocmon duy nhất làm giảm đường huyết do tăng tổng hợp glycogen vào các mô dự trữ (gan và cơ) và tăng chuyển hoá glucoz thành axit béo ở gan.
    + Glucagon: Do các tế bào α của đảo Langerganxo tạo ra. Nó có tác dụng ngược với Insullin, Kích thích bài tiết GH, Insullin, Somatostatin.
    + Somatostatin: Ức chế giải phóng GH, TSH; ức chế tiết Insullin, glucagon và các enzim tuỵ; ức chế bài tiết gastrin, secretin và HCl.
    * Bệnh lý tuyến tuỵ: bệnh đái tháo đường.
    6. Tuyến trên thận
    - Nằm trên 2 quả thận , nặng 6 – 10g, gồm 2 phần riêng biệt khác nhau về chức năng:
    a) Phần vỏ: Tiết ra hoocmon tham gia vào quá trình chuyển hoá thuộc nhóm corticoit và nhóm hoocmon sinh dục Adrogen .Tác dụng của hoocmon vỏ:
    * Đến chuyển hoá gluxit: tăng glycogen ở gan, tăng sự tạo thành gluco mới, ức chế sử dụng gluco trong tế bào, tăng hấp thu gluco ở ruột.
    * Đến chuyển hoá lipit: ức chế tổng hợp lipit, tăng sự thoái hoá của các axit béo.
    * Đến chuyển hoá protein: Tăng dị hoá protein và tăng đào thải N qua nước tiểu.
    * Tác dụng đến chuyển hoá muối và nước: Tăng tái hấp thu Na, giảm tái hấp thu K dó đó giữ nước.
    - Khi chức năng của tuyến trên thận bị rối loạn thì hoạt động của tuyến sinh dục cũng bị rối loạn
    b) Phần tuỷ: Tiết adrenalin và noradrenalin
    *Adrenalin; Tác dụng trực tiết lên tim, làm tăng hoạt động của tim, làm co những động mạch nhỏ ở mao mạch da, giãn mạch nuôi tim, do đó tăng huyết áp tối đa. Tăng chuyển hoá glycogen -> gluco -> tăng đường huyết.
    * Noradrenalin: giống như adrenanin nhưng tác dụng mạnh hơn trong việc tăng huyết áp, làm co mạch toàn thân, làm tăng cả huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu.
    7. Tuyến sinh dục
    Là tuyến pha, vừa tiết sản phẩm sinh dục (tinh trùng ở nam và trứng ở nữ), vừa tiết hoocmon.
    a) Cơ quan sinh dục nam: gồm 2 phần: phần nằm trong khoang bụng (tuyến sinh dục, túi tinh và ống dẫn tinh) và phần ở ngoài khoang bụng (tinh hoàn, dương vật).
    - Hoocmon sinh dục nam: Hình thành trong các tế bào kẽ của tinh hoàn gồm:
    Testosteron (hoocmon chính của tinh hoàn):
    Có tác dụng biệt hoá sinh dục, làm phát triển cơ quan sinh dục phụ và các đặc điểm sinh dục thứ phát.
    Kết hợp với FSH tác dụng lên sự hình thành phát triển hoạt động của tinh trùng và các chức năng dinh dưỡng của cơ quan sinh dục phụ.
    * Tác dụng đến sự tăng trưởng, chuyển hoá đặc biệt là chuyển hoá protein. Ở thiếu niên gây gây hiện tượng dậy thì. Ở nữ cũng có một hàm lượng nhỏ testosteron do vỏ tuyến thượng thận và buồng trứng tiết ra, có tác dụng ức chế sự rụng trứng và tiết sữa.
    b) Cơ quan sinh dục nữ
    Gồm 2 phần: Trong khoang bụng (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo) và ngoài khoang bụng (âm hộ và tuyến vú)
    - Hoocmon sinh dục nữ:
    Hoocmon buồng trứng: thuộc nhóm Ơstrogen -> dậy thì ở cơ thể thiếu nữ, làm phát triển cơ quan sinh dục, làm xuất hiện đặc điểm sinh dục phụ ở nữ gây tích nước trong cơ thể. Ngoài ra còn gây biến đổi theo chu kỳ của tử cung và âm đạo. Ở phụ nữ có thai làm to tuyến vú và núm vú.
    - Hoocmon thể vàng (thuộc nhóm Progesteron): là hoocmon trợ thai quan trọng nhất, chuẩn bị cho trứng làm tổ, tạo điều kiện cho thai phát triển , thiếu hoocmon này thai không phát triển được. Đồng thời ức chế bài tiết LH, làm tuyến vú phát triển.
    III - ĐẶC ĐIỂM NỘI TIẾT Ở TRẺ EM.
    Lúc đầu sự phát triển của bào thai chịu tác động nội tiết của cơ thể mẹ. Các tuyến nội tiết phát triển khi thai được 5 – 7 tháng.
    Số lượng hoocmon lúc đầu ít, sau tăng dần
    Khi mới sinh hoạt động của các tuyến nội tiết không giống người lớn.
    Tuyến yên: tiết đủ loại hoocmon, nhưng tỷ lệ các loại thay đổi theo tuổi phù hợp với nhu cầu của cơ thể.
    - Cường độ tiết hoocmon thay đổi, phụ thuộc hoạt động của hệ thần kinh
    IV - SỰ ĐIỀU HOÀ HOẠT ĐỘNG NỘI TIẾT
    Hoạt động nội tiết rất phức tạp và được điều hoà bằng nhiều cách:
    + Điều hoà đơn giản
    + Điều hoà 2 cấp
    Tuyến yên có tác dụng điều hoà hoạt động của các tuyến nội tiết khác nhờ các hoocmon của nó (ACTH, TSH, FSH, LH...).
    Vùng dưới đồi tiết ra các yếu tố điều khiển tuyến yên và qua tuyến yên điều khiển các tuyến khác.
    - Các tuyến nội tiết lại chịu sự chi phối của hệ thần kinh nói chung, đặc biệt là vỏ não. Ngược lại hoocmon cũng có ảnh hưởng nhất định đến hệ thần kinh
     
    Gửi ý kiến